Toggle Theme Editor
Slate Blueberry Blackcurrant Watermelon Strawberry Orange Banana Apple Emerald Chocolate Charcoal

Tổng hợp các bài giảng về GLUCID ( Mrfool)

  1. mrfool_ytb

    mrfool_ytb New Member

    Tham gia ngày:
    22/8/10
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    0

    Tổng hợp các bài giảng về GLUCID ( Mrfool)


    Polysaccaride

    Polysaccharide là các gluxit phức với phân tử rất lớn gồm nhiều đơn vị monosaccharide liên kết với nhau tạo nên. Polysaccharide không có vị ngọt như monosaccharide hay disaccharide, không tan trong nước mà chỉ tạo dung dịch keo. Đây là nhóm chất hữu cơ phổ biến và có khối lượng lớn nhất trên trái đất. Polysaccharid rất đa dạng về chủng loại. Trong cơ thể sinh vật có rất nhiều loại polysaccharide khác nhau, trong đó phổ biến nhất là tinh bột, glycogen, cellulose.
    1. Tinh bột
    Tinh bột là chất dự trữ rất phổ biến ở thực vật. Có nhiều trong các mô dự trữ như hạt, củ. Tinh bột không phải là đơn chất mà là hỗn hợp các chuỗi thẳng các phân tử amylose và chuỗi phân nhánh là amilopectin. Tỷ lệ 2 nhóm chất này trong tinh bột quyết định các tính chất lý - hoá của chúng, quyết định chất lượng của chúng (độ dẻo, độ nở ...)
    * Amylose: Amylose là polysaccharide được tạo nên từ các phân tử α.D.glucose. Các α.D.glucose liên kết với nhau bằng liên kết (1α - 4) glucozid tạo nên chuỗi polysaccharide. Mỗi liên kết glucozit được tạo ra sẽ loại một phân tử H2O. Do chỉ có loại liên kết (1α - 4) glucozid cấu tạo nên amylose nên phân tử amylose có cấu trúc mạch thẳng.
    [​IMG]
    Amylose được tạo ra từ 5000 - 1000 phân tử α.D.glucose (có khi chỉ khoảng 250 - 300 phân tử). Chuỗi phân tử glucose xoắn lại với nhau theo hình xoắn lò xo. Sự hình thành dạng xoắn do hình thành các liên kết hyđro giữa các glucose tạo ra. Mỗi vòng xoắn có 6 đơn vị glucose và được duy trì bởi liên kết hyđro với các vòng xoắn kề bên.
    Khoảng không gian giữa các xoắn có kích thước phù hợp cho một số phân tử khác liên kết vào, ví dụ như iod. Khi phân tử iod liên kết vào vòng xoắn sẽ làm cho các phân tử glucose thay đổi vị trí chút ít và tạo nên phức màu xanh đặc trưng.
    Dạng xoắn của amylose chỉ tạo thành trong dung dịch ở nhiệt độ thường. Khi ở nhiệt độ cao chuỗi xoắn sẽ bị duỗi thẳng ra và không có khả năng liên kết với các phân tử khác.
    * Amylopectin: Amylopectin có cấu tạo phức tạp hơn. Tham gia cấu tạo amylopectin có khoảng 500.000 đến 1 triệu phân tử α.D.glucose liên kết với nhau. Trong amylopectin có 2 loại liên kết:
    - Liên kết (1α - 4) glucozid tạo mạch thẳng.
    - Liên kết (1α - 6) glucozid tạo mạch nhánh.
    [​IMG]
    Cứ khoảng 24 - 30 đơn vị glucose trên mạch sẽ có một liên kết (1a - 6) glucozid để tạo mạch nhánh. Trên mạch nhánh cấp 1 lại hình thành mạch nhánh cấp 2, cứ như vậy phân tử amylopectin phân nhánh nhiều cấp rất phức tạp.
    Trong tinh bột tỷ lệ amylopectin chiếm khoảng 80%, còn amylose chiếm 20%. Tỷ lệ này thay đổi ở các nhóm sinh vật khác nhau.
    Tinh bột là nguyên liệu dự trữ trong thực vật. Đây là dạng dự trữ thích hợp nhất vì tinh bột không có khả năng thấm qua màng tế bào nên không thể thất thoát ra khỏi tế bào.
    2. Glycogen
    Glycogen là polysaccharide dự trữ ở động vật, đó là tinh bột ở động vật. Cấu trúc của glycogen giống tinh bột nhưng mức độ phân nhánh nhiều hơn ở tinh bột, cứ khoảng 8 - 12 đơn vị glucose đă có một liên kết (1α - 6) glucozid để tạo nhánh mới.
    Ở động vật và người, glucogen được dự trữ chủ yếu ở gan. Sự phân huỷ và tổng hợp glycogen được hệ thống các hoocmon điểu khiển một cách chặt chẽ để điều hoà sự ổn định lượng glucose trong máu luôn là hằng số 1%.
    3. Cellulose
    Trong các hợp chất hữu cơ có trong cơ thể sinh vật thì cellulose có tỷ lệ cao hơn cả. Nó là thành phần chính của thành tế bào thực vật.
    Cũng như amylose, amylopectin, cellulose là chất trùng hợp từ nhiều đơn phân. Thành phần đơn phân của cellulose là β.D.glucose. Các phân tử β.D.glucose liên kết với nhau bằng liên kết (1β - 4) glucozid thay nhau 1 "sấp" và 1 "ngửa". Sự thay đổi về thành phần và cấu tạo này dẫn đến sự khác biệt về tính chất giữa cellulose và amylose. Phân tử cellulose không cuộn xoắn như amylose mà chỉ có cấu trúc dạng mạch thẳng. Cấu trúc này tạo điều kiện hình thành các liên kết hyđro giữa các phân tử cellulose nằm song song với nhau, tạo nên cấu trúc màng cellulose và vi sợi (micro fibrin) trong cấu trúc màng cellulose của tế bào thực vật. Các sợi này không tan trong nước, rất bền về cơ học nên tạo nên lớp màng cellulose bền chắc.
    [​IMG]


                  

  2. Click Like Dưới Đây Để Nhận Bài Mới Từ Truyenky.Vn Trên Facebook của bạn:

  3. Từ Khóa :      (Edit Tags)
  4. mrfool_ytb

    mrfool_ytb New Member

    Tham gia ngày:
    22/8/10
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    0
    Disaccharide - Đường đôi

    Disaccharide là đường đôi do 2 đơn vị monosaccharide liên kết với nhau tạo thành. Liên kết giữa 2 monosaccharide là liên kết glucozid. Có nhiều loại disaccharide tồn tại trong tế bào. Trong đó, phổ biến nhất là maltose, saccharose, lactore.
    - Maltose là loại đường đôi do 2 phân tử a.D.glucose liên kết với nhau bằng liên kết (1 - 4) glucozid.
    [​IMG]
    Maltose là thành phần trung gian cấu trúc nên tinh bột và cũng là sản phẩm phân huỷ tinh bột hay glycogen không hoàn toàn.
    - Saccharose là loại đường đôi do phân tử a.D.glucose ngưng tụ với phân tử b.D.fructose tạo nên. Hai monosaccharide này liên kết với nhau bằng liên kết (1a - 2b) glucozid tạo nên:
    [​IMG]
    Saccharose là đường đơn phổ biến ở thực vật, có nhiều trong mô dự trữ của nhiều nhóm cây như mía, củ cải đường.
    - Lactose là loại đường đôi do phân tử b.D.galactose ngưng tụ với phân tử a.D.glucose tạo nên. Liên kết giữa 2 monosaccharide này là liên kết (1- 4) glucozid:
    [​IMG]


                  

  5. mrfool_ytb

    mrfool_ytb New Member

    Tham gia ngày:
    22/8/10
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    0
    Phân loại Glucid

    Cơ sở phân loại: Người ta thường phân loại glucid dựa theo mức độ phức tạp của phân tử, lấy đường đơn làm cơ sở.
    Chia làm 2 loại chính:
    1. Loại ose
    O se là những đường không thuỷ phân được nữa thường còn gọi là đường đơn hoặc monosacand. Tuỳ theo số nguyên tử carbon, loại OZA chia thành các nhóm:
    - Triose (C3H6O3)
    - Tetrose (C4H8O4)
    - Pentose (C5H10O5)
    - Hexose (C6H12O6)
    2. Loại osid
    Là những glucid phức tạp do nhiều monosacand ghép lại. Loại này gồm 2 nhóm lớn
    2.1. Holosid
    Khi thuỷ phân cho toàn monosacand, nên còn gọi là glucid đơn thuần, nhóm này chia ra thành:
    - Oligosacand (hoặc oligose): cấu trúc đơn giản gồm từ 2 đến 3 monosacand nên còn gọi là disacarid và trisacand.
    - Polysacand (polyose) cấu trúc rất phức tạp gồm nhiều monosacand, một số đại diện như: tinh bột, glycogen, cellulose...
    2.2. Heterosid
    Khi thuỷ phân, ngoài monosacand còn thấy nhiều nhóm không phải glucid (nhóm aglucon).
    Dưới đây ta lần lượt nghiên cứu từng loại nói trên.
    3. LOẠI OSE
    Xét về cấu trúc, monosacarid là những dẫn xuất aldehyd và ceton của rượu nhiều nguyên tử và tương tự như vậy ta có alôose hoặc cetose.
    [​IMG]
    3.1. Triose (C3H6O3)
    Đy là những monosacand có 3 nguyên tử cathon. Đại diện của nhóm này là glycerylaldehyd và dioxyaceton.
    [​IMG]
    3.2. Tetrose (C4H8O4)
    Tetrose là monosacand mà phân tử của nó có 4 carbon. Trước kia loại này không được các nhà sinh vật học chú ý lắm, nhưng sau này người ta thấy khi thuỷ phân glucid, trong những sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi chất, cùng với dạng phosphoryl của loại hexose, pentose, còn có dạng tetrose như eritrophosphat.
    [​IMG]
    3.3. Pentose (C5H10O5)
    Một số đại diện của loại monosacand 5 carbon này là:
    [​IMG]
    Pentose có thể tồn tại dạng vòng, chúng tham gia vào thành phần của acid nucleic
    [​IMG]
    3.4. Hexose (C6H12O6)
    Trong cơ thể đống vật và người, những hexose thường gặp là: glucose, fructose, mannose, galactose (một phần hexose ở trạng thái tự đo, một phần ở dạng liên kết trong thành phần của polysacand. Hexose tự nhiên: glucose, fructose, mannose, galactose thuộc loại cấu trúc dãy D - ở trong điều kiện phòng thí nghiệm có thể nhận được đường dãy L.
    Tất cả monosacand tự nhiên có vị ngọt và dễ hoà tan trong nước. Độ ngọt của mỗi loại đường không giống nhau.
    Monosacand loại hexose tương đối phổ biến như chúng ta đã trình bày ở trên.
    4. LOẠI OSID
    Osid gồm 2 loại chính:
    - Loại osid thuần nhất (hay còn gọi là holosid) gồm toàn o se.
    - Loại osid không thuần nhất (heterosid) loại này ngoài các o se ra còn có nhóm ghép không phải glucid.
    Ta lần lượt nghiên cứu mấy loại phổ biến sau đây:
    4.1. Loại holosid
    Tuỳ số lượng monosacand tạo thành mà nhóm holosid chia ra: disacand, tnsacand, polysacand.
    4.1.1. Disacarid. (hay còn gọi là đường kép)
    Nó được thành lập do 2 monosacand hợp lại qua mạch osid sau khi khử đi một phần tử nước .
    Thành phần những đường kép chủ yếu như sau:
    [​IMG]
    Mấy chất đáng chú ý là:
    - Saccarose: (α glucosido - 1,2, β - fructose) liên kết glucosid giữa C1 của glucose
    và C2 của fructose.
    [​IMG]
    Loại này còn được gọi là đường mía hay đường củ cải đường (mía có 20%, củ cải đường có 27%).
    Saccarose không còn nhóm OH glucosid tự do nên không cho những phản ứng oxy - hoá khử.
    - Lactose (β - galactosido - 1,4, α - glucose) đường của sữa hàm lượng lactose thay đổi tuỳ loại sữa. Đây là loại đường kép độc nhất được tổng hợp ở cơ thể gia súc - Lactose có tính oxy hoá khử điển hình của đường.
    [​IMG]
    Maltose (α - glucosido 1 ,4 - α - glucose)
    Còn gọi là đường mạch nha. Đường này sinh ra trong ống tiêu hoá do sự thuỷ phân tinh bột hoặc glycogen bồi men amylase.
    [​IMG]
    - Cellohiose: (β - glucosido - 1,4, β - glucose) là đường kép thu được khi thuỷ
    phân cellulose chưa triệt để.
    [​IMG]
    4.1.2. Polysacarid
    Polysacand là loại đa đường có trọng lượng phân tử rất cao, do nhiều gốc monosacarid hợp lại mà thành. Công thức chung của polysacand là (C6H10O5)n. các loại polysacariô đáng kể nhất là:
    - Tinh bột
    - Glycogen
    - Cellulose
    - Chitin
    Tinh bột
    Tinh bột là loại glucid dự trữ của thực vật được lluul thành trong quá trình quang hợp. Nó là nguồn thức ăn rất quan trọng đối với động vật, nhất là động vật nông nghiệp. Phản ứng đặc trưng nhất của tinh bột là tác dụng với iod (hoặc dung dịch luôm) cho màu xanh chàm.
    Hàm lượng của tinh bột khác nhau ở các loài thực vật: Ví dụ: gạo tẻ chứa khoảng: 75,81% ngô chứa khoảng: 70,08%
    Cấu tạo hoá học của tinh bột được tạo thành từ các gốc a glucose gồm 2 thành phần: + Amylose (chiếm 10 - 20%) - chất này tan trong nước, không tạo hồ, với iod cho màu xanh, các gốc a - glucose được liên kết với nhau qua mạch glucosid 1 - 4 tạo thành mạch thẳng.
    [​IMG]
    + Amilopectin (chiếm 80 - 90%) không tan trong nước với iod cho màu tàn đỏ gồm các gốc a - glucose liên kết với nhau qua mạch glucosid 1- 4 và 1-6 tạo cho phân tử tinh bột có cấu tạo phân nhánh.
    [​IMG]
    Glycogen (hay còn gọi là tinh bột động vật)
    Đó là loại glucid dự trữ trong gan và mô bào động vật. Cấu tạo hoá học của glycogen giống tinh bột, tức là cấu tạo từ các α - glucose, nhưng mức độ phân nhánh của glycogen mạnh hơn .
    Cenlulose (hay còn gọi là chất xơ)
    Đó là loại polysacarid phổ biến nhất của thực vật. Nó được cấu tạo từ nhiều gốc β - glucose qua mạch - glucosid 1- 4 tạo thành chuỗi thẳng không phân nhánh, số lượng β - glucose khoảng vài chục vạn. Trong thực vật, cellulose liên kết thành các bó sợi là các mi xen qua các liên kết hydrogen.
    [​IMG]
    Cenlulose chỉ bị phân hoá bồi enzym cenlulase vi sinh vật cho nên cơ thể gia súc muốn sử dụng cellulose phải nhờ sự hoạt động của vi sinh vật có trong dạ cỏ của loài nhai lại bởi vì trong cơ thể gia súc không có enzym cellulase.
    Ngoài các loại đường thường gặp nói trên chúng ta còn gặp một số đa đường như: chinh, muốn, hemicellulose, dextran...
    Chitin
    Chitin là một polysacand thuần được cấu tạo từ các đơn vị N-acetylglucosanlin nối với nhau bằng liên kết β - glucosid 1- 4. Sự khác nhau duy nhất về mặt hóa học giữa chính và cellulose là sự thay thế nhóm hydroxyl ở vị trí C2 bằng một nhóm được acetyl hóa (CO3-CO-NH-):
    [​IMG]
    Chitin có dạng sợi giống như cellulose và động vật cũng không tiêu hóa được chính. Chitin là thành phần cơ bản của lớp vỏ cứng của nhiều loài sinh vật, là polysacand phổ biến trong tự nhiên chỉ sau cellulose.
    Inulin: là một polysacand dự trữ của thực vật. Đơn vị cấu tạo là fructose. Trọng lượng phân tử của insulin thấp vì nó chỉ có khoảng 30 gốc fructose, do đó polysacand này dễ dàng hoà tan trong nước.
    ở loài ngũ cốc thời kỳ phát triển đầu thường có đa đường cấu tạo do fructose. Khi chín muồi đa đường này sẽ phát triển thành tinh bột.
    Hemiceuulose: Đấy là tên chung của nhiều loại đa đường thường gặp trong rơm, gỗ, lõi ngô...
    Đa đường loại này nếu có đơn vị cấu tạo từ:
    + Mannose thì gọi là mannan
    + Arabinose thì gọi là araban
    + Galactose thì gọi là galactan
    + Cylose thì gọi là cylan
    Dextran: là sản phẩm của vi khuẩn
    Dextran cấu tạo từ α -glucose nối mạch glucosid 1 - 4 và 1 - 6, nhưng khác glycogen, mạch glucosid 1 - 4 ở đây là mạch rẽ.
    4.2. Loại heterosid
    Heterosid là loại đa đường không thuần nhất, có cấu tạo cao phân tử và cấu trúc phức tạp. Trong thành phần của nó ngoài các monosacand ra còn có các dẫn xuất của monosacand như hexosamin, hexosulfat...
    Heterosid chia làm nhiều lớp khác nhau tuỳ tính chất và cấu trúc. Đáng kể nhất là 2 lớp:
    - Glucopolysacand
    - Mucopolysacarid
    4.2.1. Mucopolysacarid: (mucor - chất nhầy)
    Đây là loại đa đường thường gặp trong mô liên kết, ở chất trung gian giữa các tế bào và ở các dịch nhầy. Ba loại mucopolysacand đáng chú ý là:
    - Acid hyaluronic
    Loại đa đường nhầy này có trong dịch bao khớp, trong thuỷ tinh thể mắt, trong nhiều mô bào của động vật khác.
    Trọng lượng phân tử khoảng 200 - 500 nghìn, hoà tan trong dung dịch rất nhớt. Nhờ đặc tính này nên acid hyaluronic được ví như chất xi măng gắn với các tế bào của mô trong cơ thể.
    Khi thuỷ phân acid hyaluronic ta thu được N- acetylglucosamin và acid D- glucoronic.
    Hai thành phần này nối với nhau theo sự dự đoán sau:
    [​IMG]
    Nhiều vi khuẩn có khả năng phá hoại mạch mô bào, nọc ong, nọc rắn... có loại enzym hyaluronidase phân giải acid hyaluronic. Enzym này làm hỏng chất nhầy gắn tế bào nên vi khuẩn dễ hoạt động.
    Đầu mũi nhọn của tinh trùng cũng có acid hyaluronic nên tinh trùng có khả năng xâm nhập vào tế bào trứng để thực hiện quá trình thụ tinh.
    - Chondroitin sulfat
    Chất này chứa nhiều trong mô liên kết, ở chất tính kiềm của sụn dưới dạng phức chất nhầy chondromucoid.
    Trọng lượng phân tử rất cao gồm acetyl-galactosamin, acid glucoronic - cấu trúc dự đoán như sau:
    [​IMG]
    Heparin (Hepar - gan)
    Đây là loại đa đường tìm thấy đầu tiên ở gan, sau đó ở cơ, tim, phổi...
    Trọng lượng phân tử khoảng 17.000 thành phần gồm galactosamin, acid glucoronic và gốc sulfat.
    [​IMG]
    Heparin có khả năng liên kết với trombokinase, làm cho chất này không tham gia vào quá trình đông máu được. Chính ở miệng con đỉa cũng có chất hepann này, cho nên khi đỉa cắn máu thường chảy ra nhiều, khó đông.
    Trong y học và thú y hepann được dùng làm chất ổn định máu và chống đông máu (khi truyền máu).
    4.2.2. Glucopolysacand
    Là loại đa đường phức tạp có tính keo như mucopolysacand nhưng không chứa dẫn xuất an lin như hexosanủn. Đại diện của nhóm này thường là:
    - Pectin thực vật: là những chất giữ vai trò nhựa gắn tế bào mô thực vật.
    - Glucopolysacand của vi khuẩn: thường có trong cấu tạo giáp mô, có đặc tính bền đối với men tiêu hoá. 'Nhờ vậy vi khuẩn sống được trong những môi trường như nước bọt, dịch ruột...


                  

  6. mrfool_ytb

    mrfool_ytb New Member

    Tham gia ngày:
    22/8/10
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    0
    Đại cương về Glucid

    Glucid là hợp chất phổ biến trong tự nhiên và trong cơ thể sinh vật. Thành phần mô bào thực vật gồm trên dưới 80%, chất khô là glucid, mô bào động vật có ít hơn, khoảng trên dưới 2%. Đây là loại chất hữu cơ phổ biến bậc nhất. Glucid ở thực vật có dưới dạng chất xơ (cellulose dạng tinh bột dự trữ, dạng đường (sacarose, fructose...). Ở động vật, glucid có nhiều trong gan dưới dạng glycogen dự trữ, hoặc có trong huyết thanh dưới dạng glucose.
    1. Định nghĩa về glucid
    Glucid là hợp chất hữu cơ mang năng lượng, nó là sản phẩm của quá trình quang hợp: cây xanh nhờ diệp lục đã biến CO2 và H2O thành glucid dưới ánh sáng của mặt trời:
    [​IMG]
    Có thể nói glucid là những hợp chất mà ở đó quang năng đã chuyển sang dạng hoá năng dễ sử dụng đối với đa số sinh vật.
    2. Vai trò của glucid trong sự sống
    Cung cấp năng lượng cho hoạt động sống, hàng ngày nhu cầu năng lượng của động vật được bảo đảm 60 - 80% là do glucid.
    - Tham gia vào cấu trúc của các mô bào (nhất là mô chống đỡ). Đó là vai trò tạo hình của glucid. Ví dụ: nhóm chất quan trọng của cơ thể là acid nucleic có thành phần đường ribose và desoxyribose.
    - Ngoài ra, trong đời sống hàng ngày của người và gia súc, những glucid như tinh bột, đường, cellulose (rơm, cỏ, rau) chiếm một tỷ lệ quan trọng trong thực phẩm.
    3. Các tính chất của glucid
    3.1. Tính chất lý học của monosacand
    - Tính hoà tan và quay mặt phẳng phân cực
    Các monosacarid dễ tan trong nước, ít tan trong rượu, không tan trong các dung môi hữu cơ (như đe, benzen) và có khả năng làm quay mặt phẳng phân cực.
    - Tính chất oxy hoá khử
    Các monosacand thể hiện tính khử mạnh do sự có mặt các nhóm chức aldchyd và đon tự do. Trong môi trường kiềm và đun nóng, các monosacand có thể khử các con tám loại (ví dụ Cu2+ -> cuối Tính chất này được sử dụng để định lượng đường khử nói chung và glucose nói riêng trong các mẫu thực vật và động vật. Khi khử các monosacand ta thu được các rượu đa nguyên tử tương ứng. Các rượu socbit, ribit vốn được tạo thành khi khử glucose (hoặc fructose), ribose... thường gặp trong cơ thể sống và đóng vai trò quan trọng.
    - Phản ứng tạo este
    Khi phản ứng với các acid, các monosacand tạo thành các este, trong đó có ý nghĩa quan trọng nhất là các este phosphonc của monosacand. Các monosacand tham gia vào các quá trình trao đổi chất quan trọng nhất (như quang hợp, hô hấp) đều ở dạng este phosphoric: aldehyd-3-phosphoglyceric, phosphodioxyaceton, glucose-6- photphat, fructose-1,6-diphotphat, riboso-5-photphat...
    Phản ứng với hydrazin (NH2 - NH2) hoặc phenylhydrazin (C3H5 -NH- NH2) Monosacand tác dụng với phenythydrazin tạo thành sản phẩm không tan - phenylozazon màu vàng. Phenylozazon được sử dụng để nhận biết đường khi phân tích. Sơ đồ hình thành ozazon của monosacand có thể biểu diễn như sau:
    [​IMG]
    - Tác dụng với acid phosphonic
    [​IMG]
    4. Vấn đề đồng phân và mạch vòng của monosacarid
    4.1. Vấn đề đồng phân
    Một trong những đặc điểm của glucid (ví dụ như glucose và nhiều monosacand khác) là tồn tại dưới nhiều dạng đồng phân.
    Mỗi phân tử monosacand, từ loại có 3 carbon trở lên đều chứa ít nhất một nguyên tử carbon bất đối (nghĩa là 4 hoá trị carbon được bão hoà bởi 4 nhóm hoá học khác nhau). Vì vậy nó có khả năng tồn tại ở 3 dạng đồng phân.
    - Đồng phân quay phải tia phân cực (+)
    - Đồng phân quay trái tia phân cực (-)
    - Chất không có hoạt tính quang học (raxemat)
    Hai đồng phân đầu là 2 chất đối kháng về mặt quang học.
    Dựa.vào các đồng phân của triose là glycerylaldehyd người ta chia các mơnose làm 2 hàng tương ứng: D và L.
    [​IMG]
    Vị trí để nhận xét hàng D và L cho các đường là H và OH ở nguyên tử carbon nằm cạnh nhóm rượu bậc nhất (CH2OH)
    - Nếu OH nằm bên phải là hàng D
    - Nếu OH nằm bên trái là hàng L
    Hàng D và L giống nhau về nhiều đặc tính lý hóa, chúng chỉ khác nhau về khả năng làm quay mặt phảng tia phân cực. Ngoài ra, về mặt dinh dưỡng của động vật giá trị của hai loại cũng khác nhau. Trong cơ thể chủ yếu có đường hàng D.
    4.2. Vấn đề mạch vòng của monosacarid
    Trong cấu trúc của monosacand ta thấy có những gốc hoạt động ở cạnh nhau như aldchyd và alcol. Do đó chúng có khả năng phản ứng với nhau tạo thành dạng dẫn xuất nửa acetal (hemiacetal) theo sơ đồ sau:
    [​IMG]
    Khi phản ứng xảy ra trong phân tử monosacand, một cầu nối oxy sẽ được thành lập và monosacand sẽ hoá dạng vòng.
    [​IMG]
    Dạng vòng của monosacand có thể là 6 cạnh hay 5 cạnh. Haworth đã đề nghị gọi monosacand có dạng vòng 6 cạnh là pứanose và monosacand có dạng vòng 5 cạnh là furanose. Vì có thể cơi 2 dạng này như là dẫn xuất của phần và furan.
    [​IMG]
    Cầu nối oxy có thể xuất hiện giữa nguyên tử C1 - C5 (dạng Piranose) hoặc C1- C4 dạng furanose)
    Ví dụ:
    [​IMG]
    Haworth cũng đã đề ra công thức phối cảnh để biểu diễn monosacand. ở dạng vòng glucose (hoặc các monosacand khác) có khả năng tồn tại dưới dạng đồng phân không gian a và β Hai loại này khác nhau do vị trí H và OH ở nguyên tử C1.
    [​IMG]
    Đối với monosacand lớp cetose như fructose cũng có thể ở dạng nửa acetal, nhưng cầu nối oxy sẽ xuất hiện giữa C2 - C5 hoặc C2 - C6
    [​IMG]
    5. Các monosacarid phổ biến
    Trong tự nhiên và trong cơ thể động vật thường gặp các monosacand sau:
    5.1. D - Glucose (còn gọi là đường nho)
    Đây là loại đường phổ biến nhất có nhiều trong hoa quả. Trong máu của gia súc chứa trung bình 80 - 120mg%, glucose ở gan, bắp thịt được trùng hợp và dự trữ ở dạng glycogen.
    Glucose có đủ đặc tính của đường đơn (khả năng oxy - hoá khử, dạng vòng, quay tia phân cực...).
    [​IMG]
    5.2. D - Galactose: còn gọi là đường sữa, có trong thành phần đường lactose ở sữa và ở dạng hợp chất galactosid của não (xerebrosid).
    [​IMG]
    5.3. D - Fructose (fructus - quả) Có nhiều trong quả chín, có vị ngọt mạnh
    [​IMG]
    5.4. D - Manose: Được coi là epimer của D - glucose vì chỉ khác glucose ở vị trí C2 vê nhóm OH.
    Manose thường thấy ở hoa quả (vỏ cam) và trong phức hợp với mấy loại protein (như albumin, globulin, chất nhầy mucoid)
    5.5. Các pentose: là loại monosacand 5 carbon, trong tự nhiên có dưới dạng đa đường pentosan (ổ rơm, cỏ) hoặc một ít tự do (ở quả chín).
    Trong cơ thể gia súc có D - ribose và D - desoxyribose là nhóm chất quan trọng nhất trong nucleoproteid.
    6. Các dẫn xuất chính của monosacarid
    6.1 . Các phospho - este (hesose - phosphat)
    Các monosacand như glucose, fructose... trong mô bào sinh vật dễ este hoá với H3PO4 thành dạng glucose - phosphat.
    [​IMG]
    Loại chất này rất quan trọng trong quá trình trao đổi vật chất và giải phóng năng lượng cho cơ thể động vật.
    6.2. Dẫn xuất chứa quan (hexosamin)
    Một nhóm OH (thường ở vị trí C2) được thay bằng NH2
    Trong cơ thể động vật, loại đường quan này có trong protein chất nhầy ở cấu trúc một số mô.
    Hai chất thường gặp:
    [​IMG]
    6.3. Nhóm glucosid
    Về cấu tạo, glucosid là những hợp chất este giữa monosacand và chất không glucid như rượu, metyl, acid xyanhydric gọi chung là gốc aglucon.
    Phần lớn glucosid tự nhiên là những chất độc, nhưng với liều lượng nhỏ vừa phải lại có dược tính rất giá trị. Ví dụ: Saponin (đường + saponegin) là thuốc long đờm.